Tin tức ngành

Trang chủ / Tin tức / Tin tức ngành / Tổng quan về xuất nhập khẩu sợi của Trung Quốc năm 2025

Tổng quan về xuất nhập khẩu sợi của Trung Quốc năm 2025


Nguồn: Chi nhánh sợi, Phòng Thương mại Xuất nhập khẩu Dệt may Trung Quốc

Tóm tắt cốt lõi

[Đánh giá thị trường hàng hóa trung cấp] Năm 2025, nền kinh tế toàn cầu cho thấy sự phân hóa và tái cơ cấu trong bối cảnh khả năng phục hồi mong manh. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 3,2%. Sự tăng trưởng chậm chạp ở các nền kinh tế tiên tiến trái ngược hoàn toàn với sự trỗi dậy của các thị trường mới nổi. Trong khi đó, mức thuế cao hơn do Hoa Kỳ áp đặt đã đẩy các rào cản thương mại lên cao và chuỗi cung ứng toàn cầu đã đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu khu vực. Nhiều yếu tố cùng nhau định hình lại bối cảnh ngoại thương của Trung Quốc đối với hàng hóa trung gian bao gồm sợi và vải.

Trong cả năm, xuất khẩu sợi và vải của Trung Quốc đạt mức tăng trưởng dương nhẹ, trong khi nhập khẩu giảm đáng kể. Chỉ riêng trong tháng 12, nhập khẩu tăng nhẹ trong khi xuất khẩu tiếp tục giảm, cho thấy những bất ổn mà ngoại thương phải đối mặt trong giai đoạn sau đó. Tình hình chung đặc trưng tăng trưởng ổn định hàng năm, áp lực hàng tháng và nhập khẩu giảm .

  1. Tăng trưởng xuất khẩu sợi và vải (tháng 1 – tháng 12)

Năm 2025, tổng xuất khẩu sợi và vải của Trung Quốc đạt 83,79 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính theo sản phẩm, xuất khẩu sợi đạt 14,7 tỷ USD ( 4,1% YoY) và xuất khẩu vải đạt 69,09 tỷ USD ( 1,0% YoY).

  1. Nhập khẩu sợi và vải giảm mạnh (tháng 1 – tháng 12)

Nhập khẩu hàng hóa trung gian của Trung Quốc giảm rõ rệt. Từ tháng 1 đến tháng 12, nhập khẩu lũy kế sợi và vải là 7,12 tỷ USD, giảm 10,2% so với cùng kỳ. Cụ thể, nhập khẩu sợi đạt 4,79 tỷ USD (-8,5% YoY), nhập khẩu vải đạt 2,33 tỷ USD (-13,4% YoY).

  1. Hiệu suất hàng tháng trong tháng 12: Nhập khẩu tăng nhẹ, xuất khẩu tiếp tục giảm

Trong tháng 12, xuất khẩu hàng hóa trung gian của Trung Quốc đạt tổng trị giá 7,35 tỷ USD, giảm 3,6% YoY, bao gồm xuất khẩu sợi 1,22 tỷ USD (-3,9% YoY) và xuất khẩu vải 6,14 tỷ USD (-3,6% YoY).

Nhập khẩu hàng hóa trung gian đạt 740 triệu USD, tăng 1,2% YoY, bao gồm nhập khẩu sợi 500 triệu USD ( 4,1% YoY) và nhập khẩu vải 240 triệu USD (-4,5% YoY).

  1. Hiệu suất xuất khẩu
  2. Xuất khẩu sang ASEAN tăng

Xuất khẩu cả sợi và vải sang ASEAN đều tăng từ tháng 1 đến tháng 12.

ASEAN vẫn là thị trường xuất khẩu sợi lớn nhất của Trung Quốc, chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu sợi. Từ tháng 1 đến tháng 12, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc sang ASEAN giảm 6,1% so với cùng kỳ xuống 49,9 tỷ USD, tuy nhiên hàng hóa trung gian (sợi và vải) lại đi ngược xu hướng với xuất khẩu là 27,73 tỷ USD (0,7% so với cùng kỳ). Trong tổng số này, xuất khẩu sợi là 3,39 tỷ USD (7,5% YoY) và xuất khẩu vải là 24,34 tỷ USD (-0,2% YoY). Xét theo cơ cấu sản phẩm, sợi xơ hóa học chiếm ưu thế xuất khẩu sang ASEAN với trên 75%, tiếp theo là sợi bông với 12%.

  • Việt Nam: Xuất khẩu sợi đạt 1,58 tỷ USD, 6,5% YoY
  • Campuchia: Xuất khẩu sợi đạt 530 triệu USD, 26,8% YoY
  • Indonesia: Xuất khẩu sợi đạt 640 triệu USD, 5,9% YoY
  1. Tăng trưởng xuất khẩu sang ba nước Nam Á
  • Ấn Độ: Xuất khẩu sợi 1,28 tỷ USD, 32,3% YoY
  • Pakistan: Xuất khẩu sợi 1,25 tỷ USD, 11,4% YoY
  • Bangladesh: Xuất khẩu sợi 1,26 tỷ USD, 3,2% YoY
  1. Thị trường ở Trung Đông, Châu Mỹ và Châu Âu
  • Trung Đông (21 quốc gia): Chiếm 14,3% xuất khẩu sợi của Trung Quốc. Xuất khẩu sợi hàng năm đạt 1,86 tỷ USD, giảm 10,4% so với cùng kỳ. Xuất khẩu sang Ai Cập, UAE và Thổ Nhĩ Kỳ giảm lần lượt 8,9%, 28,9% và 12,2%, trong khi xuất khẩu sang Maroc tăng 29,1%.

21 quốc gia Trung Đông: Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Jordan, Maroc, Iran, Ả Rập Saudi, Algeria, Tunisia, Israel, Iraq, Oman, Yemen, Lebanon, Syria, Kuwait, Libya, Qatar, Sudan, Bahrain, Palestine

  • Châu Mỹ: Xuất khẩu sợi sang Bắc Mỹ giảm 14,9% so với cùng kỳ năm trước; những người đến Mỹ Latinh tăng 1,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu sang Colombia, Peru và Argentina tăng lần lượt 7,1%, 7,1% và 9,3%, trong khi xuất khẩu sang Brazil và Mexico giảm 0,8% và 5,3%.
  • Châu Âu: Xuất khẩu sợi giảm 4,8% so với cùng kỳ. Xuất khẩu sang Ba Lan, Tây Ban Nha và Belarus tăng trưởng lần lượt 2,6%, 2,4% và 38,1%; mức giảm mạnh được ghi nhận ở Bồ Đào Nha (-15%), Bỉ (-13,1%) và Đức (-11,9%).
  1. Khối lượng xuất khẩu cao hơn với đơn giá thấp hơn

Từ tháng 1 đến tháng 12, xuất khẩu sợi đạt 6,876 triệu tấn, tăng 10,9% so với cùng kỳ, với đơn giá trung bình là 2,14 USD/kg, giảm 6,1% so với cùng kỳ.

  • Sợi bông: Xuất khẩu 332.000 tấn ( 9,5% YoY), trị giá 1,26 tỷ USD ( 4,2% YoY)
  • Sợi sợi hóa học: Xuất khẩu 6,49 triệu tấn ( 11% YoY), trị giá 12,28 tỷ USD ( 4,0% YoY)
  • Sợi tơ: Xuất khẩu 2.756 kg (-13,4% YoY), trị giá 140 triệu USD (-8,3% YoY)
  • Sợi len và lông động vật: Xuất khẩu 224.000 tấn ( 4,6% YoY), trị giá 720 triệu USD ( 14,7% YoY)
  1. Các tỉnh và thành phố xuất khẩu hàng đầu

Năm khu vực xuất khẩu sợi hàng đầu là Chiết Giang, Giang Tô, Phúc Kiến, Sơn Đông và Thượng Hải, cùng chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tất cả đều tăng trưởng tích cực ngoại trừ Phúc Kiến:

  • Chiết Giang: 5,59 tỷ USD ( 3,1% YoY)
  • Giang Tô: 3,45 tỷ USD ( 5,9% YoY)
  • Phúc Kiến: 1,20 tỷ USD (-6,2% YoY)
  • Sơn Đông: 950 triệu USD ( 11,8% YoY)
  • Thượng Hải: 620 triệu USD ( 4,2% YoY)
  1. Hiệu suất nhập khẩu
  2. Nhập khẩu sợi giảm liên tục (tháng 1 – tháng 12)

Bị ảnh hưởng bởi chính sách thuế quan của Mỹ, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc sang Mỹ suy yếu, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu sợi bị thu hẹp.

  • Sợi bông: Nhập khẩu 3,33 tỷ USD (-7,6% YoY); khối lượng 1,497 triệu tấn (-1,5% YoY), chiếm 70% tổng lượng sợi nhập khẩu
  • Sợi sợi hóa học: Nhập khẩu 1,22 tỷ USD (-13,8% YoY)
  • Sợi tơ tằm, len và sợi lông động vật: lần lượt là 3,769 triệu USD ( 5,1% YoY) và 140 triệu USD ( 11,3% YoY)
  1. Nguồn nhập khẩu sợi bông

Năm nguồn sợi bông nhập khẩu hàng đầu đều là các nước châu Á, chiếm 90% tổng lượng nhập khẩu:

  • Việt Nam: Nhập khẩu 881.000 tấn ( 10,3% YoY, 58,8% tổng lượng), trị giá 1,97 tỷ USD ( 2,1% YoY, 59,3% tổng giá trị)
  • Malaysia & Indonesia: Nhập khẩu tăng lần lượt 6,2% và 32,6% YoY
  • Pakistan và Ấn Độ: Nhập khẩu giảm lần lượt 4,1% và 17,7% so với cùng kỳ năm trước